Giáo Pháp vô song, sâu xa, thâm sâu, vi tế, tuyệt diệu
Trong hàng trăm nghìn triệu kiếp thật khó gặp gỡ,
Giờ đây con đã gặp và nghe, thọ nhận và gìn giữ,
Con thề sẽ thấu triệt ý nghĩa chân thực của Thiện Thệ.
Để làm lợi lạc mọi hữu tình chúng sinh, hãy quyết tâm thành tựu Bồ đề tâm quý báu và tối thượng.
Hôm nay, tôi sẽ tận dụng buổi học này để giới thiệu lợi lạc của việc nhiễu quanh các bảo tháp Phật giáo. Phần lớn Phật tử đều biết về lợi lạc lớn lao từ việc nhiễu tháp. Tuy nhiên, vài người có thể không biết về khía cạnh này nếu các chi tiết nhất định không được giới thiệu. Bởi thế, bây giờ tôi sẽ nói với các bạn về chủ đề này một cách ngắn gọn.
Bảo tháp đại diện cho tâm linh thiêng của tất cả chư Phật. Về mặt lịch sử, bảo tháp tồn tại trước Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – trong Kinh Bách Nghiệp, có một vị vua tên Chakpa. Trong đời quá khứ, Ngài xây dựng bảo tháp Sharira (bảo tháp thờ xá lợi Phật) sau khi Câu Lưu Tôn Phật nhập diệt. Trong thời kỳ của Phật Ca Diếp, có một vị vua tên Zhizhi cũng xây dựng nhiều bảo tháp. Khi Phật Thích Ca từ bỏ đời thế tục và trở thành tu sĩ, Ngài làm vậy trước bảo tháp Brahma Tathagataya. Bảo tháp Swayambhu[1] ở Nepal cũng tồn tại trước sự xuất hiện của nhiều vị Phật. Về khía cạnh này, lịch sử của các bảo tháp khác với lịch sử của tượng và kinh Phật.
Ở Ấn Độ, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, Vua A Dục đã xây dựng 84000 bảo tháp ở khắp nơi trên thế giới; Tổ Long Thọ cũng xây dựng bảo tháp Sharira; cũng có một bảo tháp Phật giáo ở Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) ở Ấn Độ. Có nhiều bảo tháp Đại thừa và Theravada ở Ấn Độ. Khi bảo tháp được giới thiệu đến Tây Tạng, Vua Trisong Detsen xây dựng nhiều bảo tháp trong đó có Bảo tháp Samye ở U-Tsang và bảo tháp đã lan rộng đến vùng Amdo và Kham, rồi dần dần trên toàn Tây Tạng. Bảo tháp Quiyun ở chùa Bạch Mã thuộc Lạc Dương (Trung Quốc) là một trong những bảo tháp lâu đời nhất ở vùng Trung Hoa. Nó được xây dựng trong thời phong kiến. Tuy nhiên, vài người tuyên bố rằng Chùa Putong[2] còn lâu đời hơn. Dù thế nào, sau khi Phật nhập diệt, các bảo tháp đã lan khắp cõi Nam Thiệm Bộ Châu (cõi Jambudvipa trong vũ trụ học Phật giáo), và nhiều kẻ chí thành đã dâng những cúng phẩm và đỉnh lễ các bảo tháp này. Đặc biệt, những bảo tháp Sharira được xây dựng bởi Vua A Dục là ruộng phước điền vĩ đại để cả con người và phi nhân tỏ lòng kính lễ và dâng cúng dường nhằm tích lũy công đức lớn lao.
Khi phân loại các bảo tháp, có tám bảo tháp lớn ở Ấn Độ và ở Tây Tạng, các bảo tháp Kalachakra (Kim Cương Thời Luân) thường được thờ phụng. Theo những nghi lễ của Mật thừa Phật giáo, có nhiều kiểu bảo tháp khác nhau. Có vài bảo tháp trong các Terma của Đức Liên Hoa Sinh, thứ được sử dụng để thực hành Pháp. Theo các bản văn Đại thừa chẳng hạn Niết Bàn Kinh, các bảo tháp Phật giáo khác với bảo tháp của Thanh Văn và Duyên Giác Phật về mặt hình dạng và sức mạnh linh thiêng. Bảo tháp đại diện cho tâm của Đức Phật, theo Mật Tập Kim Cương (Guhyasamaja Vajra), “Một bảo tháp là cung điện nơi chư Phật an trú”. Vì thế, người ta cần xem bảo tháp là cung điện của tất cả chư Phật. Trong Giảng Giải Về Các Giới Luật Gốc Của Phật Giáo Theravada có viết rằng “bảo tháp là Pháp thân”. Về mặt này, theo Kinh Đại Bảo Tích (Maharatnakuta Sutra), “Không có sự khác biệt giữa công đức của những vị dâng cúng dường khi Ta còn sống với những vị cúng dường lên một bảo tháp sau khi Ta nhập diệt. Tại sao vậy? Bởi Đức Phật là sự hiển bày thanh tịnh của Pháp thân chứ không phải Hóa thân hay thân vật lý”. Bởi thế, bảo tháp là biểu tượng của Tam Bảo, nó là đại diện tinh túy của Pháp thân Phật và là hiện thân của Đức Phật.
Có nhiều bảo tháp ở nơi mà Phật giáo phổ biến. Hãy lấy Thái Lan làm ví dụ, dù bạn đến vùng núi non hay thành thị, bạn có thể thấy nhiều bảo tháp dọc đường. Giống như vậy, ở Tây Tạng, người ta có thể thấy những bảo tháp màu trắng ở khắp nơi. Các bảo tháp ở Thái Lan được dát vàng và vì thế có màu vàng, nhưng có lẽ, bởi sự thực là người Tây Tạng chúng tôi nghèo hơn và không có vàng, các bảo tháp màu trắng thì phổ biến hơn. Tôi từng đọc câu chuyện về một quan chức chính phủ, người đã đến đây để kiểm tra, và nói rất không hài lòng rằng: “Tại sao lại có nhiều bảo tháp trắng như vậy? Tôi không hài lòng về điều này!”. (Đây có lẽ là sự hiển bày ác nghiệp của ông ấy. Trong những hoàn cảnh thông thường, một người cần cảm thấy hoan hỷ khi thấy nhiều bảo tháp như vậy.) Chúng tôi, người Tây Tạng, có một truyền thống – khi người Tây Tạng thấy một bảo tháp, tu viện hay tu sĩ, họ sẽ xuống ngựa, cởi mũ và chắp tay. Nếu đang vội và không thể đến gần đỉnh lễ, họ sẽ chắp tay từ trong xe hơi, trên ngựa hay trên đường từ xa. Hành động như vậy cũng tạo ra công đức to lớn.
Những lợi lạc đặc biệt của việc xây dựng bảo tháp đã được giải thích chi tiết trong Kinh Lợi Lạc Xây Dựng Bảo Tháp. Thí Dụ Kinh (Avadana Sutra)[3] liệt kê 10 công đức của việc xây dựng một bảo tháp, chẳng hạn những người xây dựng bảo tháp sẽ không sinh ở vùng xa xôi, hay họ sẽ không chịu nạn đói khủng khiếp, họ sẽ không có tà kiến với Phật giáo. Kinh Xây Dựng Bảo Tháp Để Kéo Dài Thọ Mạng[4] cũng giải thích chi tiết về bảy lợi lạc chẳng hạn những vị xây dựng một bảo tháp sẽ không chết bất đắc kỳ tử. Bởi vậy, theo các bản văn Đại thừa, chúng ta cần xây dựng các bảo tháp nếu điều kiện cho phép và chúng ta có khả năng. Ở Tây Tạng, nhiều người từ các tu viện hay làng mạc quyết tâm xây dựng bảo tháp. Một năm nọ, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche yêu cầu tất cả đệ tử xây dựng thật nhiều bảo tháp, điều được đáp lại và dẫn đến việc kiến lập 10 000 bảo tháp. (Tôi không nhớ con số chính xác, nhưng nó là một con số rất lớn.)
Khi so sánh, ở Trung Hoa ngày nay, người ta xây dựng ít bảo tháp hơn. Nếu bạn có khả năng trong tương lai, bạn cần xây dựng một bảo tháp ở đâu đó, để những người thấy nó, đi nhiễu hay đỉnh lễ, cuối cùng sẽ đạt giác ngộ. Đức Phật đã dạy chúng ta nhiều lợi lạc của việc xây dựng bảo tháp trong Vô Cấu Tịnh Quang Đà Ra Ni (Vimala Suddha Prabhasa Mahadharani Sutra) và nói rằng “những người phạm phải ngũ nghịch tội dẫn đến địa ngục Vô gián, nếu anh ta đi ngang qua bóng của một bảo tháp hay nhìn thấy bảo tháp từ xa hoặc nghe thấy tiếng chuông của một bảo tháp, hay nghe thấy danh hiệu của một bảo tháp, sẽ được tịnh hóa năm tội ngũ nghịch hoặc bất cứ nghiệp chướng nào”. Vì thế, những lợi lạc của việc xây dựng bảo tháp là không thể nghĩ bàn.
[1] Bảo tháp Swayambhu là bảo tháp Phật giáo cổ nhất trên thế giới. Theo các tài liệu lịch sử, khi tuổi thọ con người là 10 000 năm, bảo tháp pha lê cao khoảng 30 cm được tạo thành một cách tự nhiên từ trí tuệ của chư Phật; trong thời của Câu Lưu Tôn Phật, toàn bộ Nepal là đại dương, bảo tháp này xuất hiện từ đại dương; vào thời của Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, bảo tháp này được gọi là bảo tháp ngữ vô ngại của cõi giới của sự thực; vào thời của Phật Ca Diếp, Ngài Jide mở rộng bảo tháp này để bảo vệ nó, cho đến ngày nay, bảo tháp vẫn an nhiên ở đó.
[2] Theo các tài liệu lịch sử, việc xây dựng bảo tháp Putong ở Quận Hà Bắc bắt đầu từ Năm 12 triều Ming Yongping của Đông Hán Triều (năm 69 sau Công nguyên) và hoàn thành vào ngày 15 tháng 1 năm Yongping (Vĩnh Bình) thứ 15, hai năm trước bảo tháp của Tu viện Baima ở Lạc Dương.
[3] Avadana Sutra nhắc đến mười nghiệp quả của việc xây dựng bảo tháp: 1. Người ta không sinh ở vùng biên địa; 2. Người ta không đau khổ vì nghèo đói; 3. Người ta không vô minh và tà kiến; 4. Người ta thọ nhận ngai tòa của 16 vương quốc vĩ đại; 5. Cuộc đời dài lâu; 6. Người ta đạt được Sức Mạnh Kim Cương Không Thể Phá Hủy; 7. Người ta đạt được sự gia trì và thiện hạnh bao la; 8. Người ta nhận được lòng bi mẫn của chư Phật và Bồ Tát; 9. Người ta có được ba kiểu tỉnh thức siêu việt; và 10. Người ta sẽ sinh về cõi Tịnh độ.
[4] Theo Công Đức Xây Dựng Bảo Tháp Để Kéo Dài Thọ Mạng Và Tích Lũy Công Đức, khi người ta xây dựng bảo tháp với tâm thanh tịnh, công đức tích lũy được như sau: 1. Người ta sẽ không bị nhiễm độc trong đời này, cuộc đời sẽ bền lâu, họ sẽ không chết bất ngờ và cuối cùng sẽ đạt thân bất hoại. Tất cả ma quỷ và chư thiên sẽ không dám tiếp cận, mọi kẻ thù đều tiêu tán; 2. Họ thoát khỏi mọi bệnh tật; mọi hữu tình chúng sinh sẽ hoan hỷ khi gặp họ; 3. Các giới luật bị nhiễm ô sẽ được tịnh hóa, những giới không quy phục sẽ được điều phục, những giới không thanh tịnh sẽ được tịnh hóa, những giới luật mà họ bẻ vỡ sẽ được sửa chửa; 4. Bốn sự đại cấm và năm kiểu ác hạnh dẫn đến địa ngục Vô gián (ngũ nghịch tội) mà người ta đã phạm phải sẽ được hủy bỏ. Mọi nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp quá khứ sẽ được tịnh hóa; 5. Nếu họ muốn sinh con trai, người con trai sẽ được phú bẩm thiện hạnh và sức khỏe; 6. Họ sẽ liên tục được bảo vệ bởi tứ Thiên vương; 7. Thậm chí nếu bảo tháp bị phá hủy và trở nên bụi bẩn, bụi được gió cuốn đi ngang qua các khu rừng, núi non, sông và biển, tất cả hữu tình chúng sinh chạm vào bụi này sẽ không bao giờ tái sinh với thân thể bất tịnh và sẽ luôn luôn có thể gặp được Phật.
Khenpo Sodargye
Việt dịch: Pema Jyana
Nguồn: Công đức nhiễu tháp
