Bút Tháp cổ tự và chuyện kể về 4 bảo vật quốc gia

Chùa Bút Tháp không chỉ là “danh lam cổ tự” nổi tiếng xứ Kinh Bắc xưa, mà mỗi tán cây ngọn cỏ đều ẩn chứa những bí mật dọc dài theo lịch sử dân tộc.

4 bảo vật quốc gia “ngự” trong cổ tự là những minh chứng đầy rõ nét và thuyết phục.

Kỳ 1: Trạng nguyên trụ trì, Hoàng thái hậu tu hành

Trạng nguyên Lý Đạo Tái sau khi nhớ lại “duyên xưa” đã xin xuất gia thụ giáo rồi trở thành trụ trì của Ninh Phúc tự, tức chùa Bút Tháp.

TS Lê Viết Nga, nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh cho biết, giới nghiên cứu lịch sử rất chú ý đến chùa Bút Tháp, xã Đình Tổ (Thuận Thành – Bắc Ninh).

Ngoài quy mô, kiến trúc lâu đời thì ngôi chùa còn mang những sứ mệnh không chỉ của Phật giáo mà còn của dân tộc. Có những chuyện, những hiện vật mà chỉ có ở Bút Tháp.

Trạng nguyên quy y cửa Phật

Toàn-cảnh-tháp-Báo-Nghiêm.

Toàn cảnh tháp Báo Nghiêm

Ninh Phúc tự từng được biết đến với nghệ thuật kiến trúc đặc sắc, phong cảnh hữu tình và sở hữu pho tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt bằng gỗ lớn nhất Việt Nam.

Cổ tự tọa lạc trong một khu đất cao bên bờ sông Đuống, và dù đã trải qua mấy trăm năm sương gió nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên vẹn thuở xưa.

Mặc dù là một ngôi chùa cổ và rất nổi tiếng của xứ Kinh Bắc, nhưng để xác định chính xác thời gian xây dựng chùa thì cho đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra được tài liệu và căn cứ thỏa đáng.

Một trong những tư liệu sớm viết về Ninh Phúc tự (tức chùa Bút Tháp) chính là sách “Địa chí Hà Bắc” khẳng định chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258 – 1278). Thiền sư Huyền Quang, người đỗ Trạng nguyên năm 1297 đã trụ trì tại đây.

Chính thiền sư Huyền Quang là người cho xây dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Tuy nhiên theo TS Lê Viết Nga, ngọn tháp ấy nay không còn nữa. Nguyên nhân vì sao thì chưa nhà khoa học nào giải thích được mà chỉ có thể phỏng đoán theo chuyện tương truyền nên không có căn cứ kết luận.

Một trong những điều khiến cho Bút Tháp nổi tiếng ngay khi xây dựng là bởi có một vị trụ trì từng đỗ đạt rất cao. Thiền sư Huyền Quang vốn tên thật là Lý Đạo Tái, sinh năm 1254 người huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Theo truyền thuyết “Tam tổ thực lục”, mẹ của Huyền Quang là Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì tuổi đã 30 mà chưa có con.

Đầu năm Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy “các toà trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông đúc. Đức Phật chỉ Tôn giả A – nan – đà, bảo: “Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông Độ và phải nhớ lại duyên xưa”.

Năm ấy Lê Thị sinh con, đặt tên Lý Đạo Tái. Lớn lên Đạo Tái có dung mạo dị thường, học giỏi đỗ cả thi hương, hội rồi đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ khoa thi năm 1272 và làm quan đến chức Hàn Lâm.

Một hôm, Đạo Tái cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhãn, nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh. Đạo Tái liền nhớ lại “duyên xưa” và xin xuất gia thụ giáo. Ông được cử làm thị giả của Trúc Lâm Đầu Đà và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.

Sau, ông theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên  trên núi Yên Tử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lý nên tăng chúng đua nhau đến học rất đông. Niên hiệu Đại Khánh thứ 4 năm 1317, ông được Pháp Loa truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ.

Vua Tự Đức đổi tên chùa

Pho-tượng-Hòa-thượng-Chuyết-Chuyết-bên-trong-tháp-đá.

Pho tượng Hòa thượng Chuyết Chuyết bên trong tháp đá

Sau khi Pháp Loa tịch, Huyền Quang kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, nhưng vì tuổi đã cao nên ông giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm.

Huyền Quang viên tịch năm Giáp Tuất 1334, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại và đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.

TS Lê Viết Nga lần giở sử tích chùa Bút Tháp lẫn đối chiếu với những sử liệu cũ thì khẳng định, ở thế kỷ 17 chùa đã trở nên rất nổi tiếng với sự trụ trì của Hòa thượng Chuyết Chuyết, người tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) sang Việt Nam năm 1633.

Năm 1644, Hòa thượng Chuyết Chuyết viên tịch và được vua Lê phong là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”. Người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Chuyết Chuyết.

Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên xin phép Chúa Trịnh Tráng rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa.

Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa theo lối kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó. Sang đầu thế kỷ 18, chùa Bút Tháp lại được tu sửa với quy mô lớn hơn trước.

Bia “Ninh Phúc thiền tự bi ký” và “Khánh Lưu bi ký” dựng năm Vĩnh Thịnh 10 (1714) chép rằng: “Chùa được các quan viên cho tu sửa thêm, chẳng tiếc ngàn vàng sắm mua toàn gỗ tốt, lại được dân làng góp sức và mời thợ cất dựng sửa sang. Với Điện thờ nguy nga, chùa chiền rộng rãi, trang điểm một bầu thế giới lưu ly”.

So với trước thì chùa có thêm dãy nhà riêng ở phía sau Phật đường, quy mô đã to lớn hơn nhiều. Đến năm 1876, khi vua Tự Đức kinh lý qua đây, thấy có ngọn tháp hình dáng khổng lồ nên đổi tên chùa Ninh Phúc là chùa Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Báo Nghiêm.

Ai xây dựng tháp Báo Nghiêm?

Bất cứ ai đến chùa Bút Tháp đều không thể bỏ qua tháp Báo Nghiêm uy nghi. Tháp nằm trong khuôn viên chùa Bút Tháp được đánh gia là một công trình kiến trúc tuyệt vời. Ngọn tháp trông như cây bút khổng lồ vươn thẳng lên trời.

Theo đo đạc, tháp cao 13,5m với kết cấu 5 tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh. Ở bên ngoài tầng đáy rộng hơn với mái hiên nhô ra; bốn tầng bên trên gần như giống nhau với mỗi cạnh rộng 2m.

Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Trong lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức phù điêu chạm đá các con thú.

Theo đánh giá của các nhà điêu khắc, tháp Báo Nghiêm thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của nghệ nhân thời xưa. “Nghệ thuật điêu khắc đá trên tháp Báo Nghiêm đã đạt đến trình độ rất tinh xảo. Đặc biệt là các hình rồng chạm nổi có thần khí vi diệu”, nhà điêu khắc Lê Đình Quỳ nhận xét.

Tháp Báo Nghiêm là công trình kiến trúc quá độc đáo. Ngoài ý nghĩa Phật giáo, thì công trình thể hiện được tài năng và sự dụng công của nghệ thuật. Nhiều phù điêu, hình họa cách điệu tạo nên dấu ấn riêng duy chỉ có ở Bút Tháp.

Tháp Báo Nghiêm thờ Hoà thượng Chuyết Chuyết, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu có rất ít tư liệu nói về việc xây dựng ngọn tháp này. Lùi về phía sau có tháp Tôn Đức cao 11m, nơi đặt xá lị thiền sư Minh Hạnh, vị tổ thứ hai của chùa.

Tháp được xây dựng từ giữa thế kỷ 17, bốn mặt tháp đều bít kín bằng đá. Mới đây trong lòng tháp người ta vừa tìm thấy được 2 cuốn sách đồng cổ, viết và khắc kinh Phật.

Mấy thế kỷ đã trôi qua, song những gì còn lại ở chùa Bút Tháp cho thấy đây là một trong những trung tâm Phật giáo có ảnh hưởng lớn tại vùng Kinh Bắc xưa, là một trong số ít những ngôi chùa còn giữ được khá nguyên vẹn khối kiến trúc, đồ thờ, tượng cổ.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, chùa Bút Tháp luôn được bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo ngày càng đẹp hơn trở thành một trong những điểm thăm quan – Du lịch tâm linh nổi tiếng ở vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc. Hàng năm, mọi người dân trong vùng và du khách gần xa luôn nhớ và trở về dự lễ hội chùa, được tổ chức vào ngày 24/3 (âm lịch).

Trần Siêu

Báo Giáo dục và Thời đại