Sự tích Đại Bảo Tháp Jarungkhasor

Đây là sự tích Đại Bảo Tháp Jarungkhasor, nơi chứa Pháp thân vốn là Tâm của chư Phật và chư Bồ Tát thuộc tam thế quá khứ, hiện tại, vị lai và mười phương. Vào năm Hỏa Thân dương, ngày mùng mười, tháng Thân, trong gian giữa của Đại tự Samye-ling, có nghĩa là Tự Tại, Bất Biến, Bất Khả Tư Nghị Và Sinh Khởi Tự Nhiên, khi Trisong Detsen, vị vua mộ đạo, cùng hai mươi lăm đệ tử của Đạo Sư hội tụ để nhận lễ điểm đạo, quán đảnh Tối Mật Tâm Lama [bla rna yang gsang thugs kyisgrubs]. Orgyen Rinpoche, tức Đạo Sư Orgyen Liên Hoa Sanh cao quý, được mời an tọa trên bảo tòa chín lớp nệm. Vua Trisong Detsen đã dâng lên Đạo Sư một ly rượu bằng vàng ròng cùng các món sơn hào hải vị, hai mươi mốt viên ngọc lục bảo lấy từ chuỗi ngọc nhà vua đang đeo trên cổ, năm ly vàng, bảy bát vàng, tám tấm lụa đẹp và rất nhiều món quý báu khác.

Phục lạy một ngàn lần vị Thầy của mình, Đức Vua nói: “Thưa Đại Sư! Con sinh ra ở xứ Tây Tạng man rợ của loài khỉ mặt đỏ này. Con đã mời 2 Hóa Thân, Hiền Giả Bồ Tát Shantirakshita xứ Zahor và Ngài, Đạo Sư Liên Hoa Sanh, Sư Trưởng xứ Orgyen, để đem Giáo Pháp đến xứ này. Con đã xây Đại Tự Samye để làm nơi thờ phụng Tam Bảo, nơi gom chứa công đức của chúng sinh, ngôi chùa vô song của Nam Thiệm Bộ Châu (cõi Nam Diêm Phù Đề, Jambudvipa). Con đã đạt được những công hạnh này. Trong cái xứ dã man như một hòn đảo bóng tối này, Giáo Pháp của Tam Bảo đã lan tỏa ra khắp như mặt trời sớm mai mọc trên đỉnh núi, mọi người được nghe giảng về Giáo Pháp thiêng liêng như họ đã nghe trong thời Hoàng Kim khi Đức Phật Ca Diếp Kashyapa giáo hóa ở xứ Ma Kiệt Đà Magadha, trung tâm của thế gian.

“Khi Đức Phật Đại Ca Diếp thuyết pháp thì nữ thí chủ Jadzima và bốn con trai của bà xây Bảo Tháp Jarungkhasor ở quận Maguta, vương quốc Nepal. Thưa Đại Sư! Nếu Ngài có thể nói cho chúng con biết, do công đức xây Tháp, những người này được hưởng nghiệp báo tốt lành nào, thì chúng con, những kẻ đã xây ngôi chùa Samye vĩ đại này, biết cách cầu nguyện, có thể vững tâm và tin tưởng vào tương lai. Để cho chúng con được tăng trưởng tín tâm, chúng con khẩn cầu Ngài nói đầy đủ về kết quả của việc xây ngôi Đại Bảo Tháp đầu tiên Jarungkhashor đó.”

Đại Sư Liên Hoa Sanh nói: “Thưa Đại Vương, xin hãy nghe cẩn thận và ghi nhớ lời nói của Ta! Ta sẽ kê cho Ngài sự tích Tháp Jarungkhasor:

Trong vô số kiếp trước, Đức Bồ Tát Ma Ha Tát, Bậc Chúa Tể Quán Tự Tại Thế Âm Avalokiteshvara đã lập đại nguyện dưới chân vị thầy của Ngài là Đức Phật Vô Lượng Quang Amitabha rằng Ngài sẽ giải thoát tất cả chúng sinh khỏi sự đau khổ của thế gian này. Và sau khi đã giải thoát vô số chúng sinh, Ngài đứng trên nóc Cung Điện Potala và nghĩ rằng hẳn là tất cả chúng sinh, không ngoại trừ ai đều đã được giải thoát. Nhưng khi nhìn xuống sáu cõi luân hồi, Ngài lại thấy vẫn còn vô số chúng sinh đang trôi lăn, ngụp lặn trong các cõi thấp sinh tử như đám ruồi trên đống rác. Chợt nghĩ rằng mình không thể giải thoát tất cả chúng sinh khỏi biển khổ của thể gian này, Ngài đã khóc và dùng ngón trỏ lau hai giọt nước mắt, Ngài cầu nguyện rằng ngay cả hai giọt nước mắt này cũng có thế giúp đỡ chúng sinh trong tương lai để họ thoát khổ. Lời cầu nguyện ấy đã trở thành sự thật, hai giọt nước mắt biến hóa và đầu thai thành hai người con gái của Indra, Vua Trời của cõi Trời Ba Mươi Ba. Hai người này được gọi là nữ thần Purna (Viên Mãn) và Apurna (Không Viên Mãn).

Một lần, Apurna hái trộm mấy bông hoa và bị vi phạm luật lệ của các thần, cô bị phạt phải tái sinh vào cõi người ở quận Maguta, xứ Nepal, trong nhà của người nuôi gà Ansu và vợ là Purna. Nữ thần được đặt tên là Shamvara (người nuôi gà). Lớn lên bà ăn nằm với bốn người đàn ông đều thuộc giai cấp hạ tiện, với bốn người này bà sinh ra bốn người con trai: Đứa con trai thứ nhất của người nuôi cừu, đứa thứ hai của người nuôi heo, đứa thứ ba của người nuôi chó, và đứa thứ tư của người nuôi gà.

Với nghề nuôi gà, Shamvara đã dành dụm được nhiều tiền của để nuôi nấng các con tử tế, trở thành những người có học. Sau này, khi đã giàu có, bà nghĩ: “Nhờ nghề của mình, nay cũng đã gây dựng được cho các con trở thành những gia chủ đáng kính. Bây giờ mình đã giàu có thì cũng nên giúp đỡ mọi người bằng cách xây một Đại Bảo Tháp, nơi chứa đựng Tâm của chư Phật. Ta nguyện rằng Tháp sẽ là ruộng công đức, phước điền cho tất cả chúng sinh và là nơi lưu giữ xá lợi của chư Như Lai. Nhưng trước hết mình phải xin phép Maharaja (Đại vương)”.

Nghĩ như thế xong, bà đến yết kiến vị Maharaja, phục lạy và nhiễu quanh Ngài, rồi quỳ xuống, chắp tay nói: “Thưa Đại vương! Tôi là một người nuôi gà hèn mọn. Một tay tôi đã nuôi bốn đứa con trai của bốn người cha bằng lợi tức nghề nghiệp của mình và đã lập gia đình cho chúng nó. Xin Ngài cho phép tôi được xây một Đại Bảo Tháp Tôi nguyện thực hiện Tháp này để làm phước điền cho vô số chúng sinh, nơi thọ nhận Tâm của tất cả chư Phật, và là nơi chứa đựng thánh tích bất hoại của chư Như Lai. Tháp sẽ được xây với số tiền của mà tôi để dành dụm được từ khi các con trai bắt đầu sống tự lập”.

“Một vị vua vĩ đại thì không bao giờ quyết định vội vã một điều gì, do vậy trước khi trả lời, nhà vua nghĩ: “Người nuôi gà này là một người đàn bà hạ tiện, nhưng bà ấy đã dành dụm đủ số tiền của để nuôi lớn bốn đứa con hoang cho đến lúc trưởng thành, và bây giờ bà ta lại muốn xây một Đại Bảo Tháp. Thật lạ lùng!”.

Và rồi, nhà vua đã quyết định cho phép người đàn bà nuôi gà xây Tháp. Shamvara rất vui mừng và phục lạy nhà vua, nhiễu quanh Ngài nhiều vòng, rồi trở về nhà. Vậy là người đàn bà cùng với bốn người con trai, một lừa, một voi bắt đầu công việc xây dựng Đại Bảo Tháp. Họ mang đất đá tới địa điểm, đổ nền, xây tường lên đến tầng thứ ba. Lúc này dân Nepal kéo tới, họ ganh ghét người đàn bà nuôi gà thấp hèn vì bà ta đã làm nhục họ bằng công trình lớn lao của mình. Họ kháo nhau là nhà vua, quan tể tướng và những người giàu có, danh giá sẽ xây dựng cái gì nếu một mụ đàn bà nuôi gà hạ tiện có thể xây một cái Tháp như vậy. Cho là mình bị hạ nhục và thiệt hại, họ đã kéo đến xin nhà vua cho ngừng việc xây Tháp. Họ thưa với Ngài rằng: “Tâu Hoàng thượng! Ngài không nên cho phép xây Tháp. Nếu người đàn bà nuôi gà hèn hạ này có thể xây một Đại Bảo Tháp như vậy, thì Đức vua, các quan, và những người giàu có trong xứ này phải xây dựng cái gì? Nếu cho xây Tháp thì mọi người chúng ta đều phải chịu sự nhục nhã. Tốt hơn là nên bắt họ mang đất đá về chỗ cũ. Không nên cho người đàn bà này xây Tháp”.

Vị Vua Maharaja vĩ đại trả lời: “Hãy nghe ta nói một cách cẩn thận! Người đàn bà nuôi gà hạ tiện này đã dành dụm được đủ số tiền để nuôi bốn đứa con hoang và đã tích trữ đủ tiền để xây Bảo Tháp này. Ta coi đây là một công trình tuyệt diệu. Ta đã chấp thuận để bà ta làm công việc này. Là một vị vua, ta chỉ nói một lần thôi!”.

Có nhiều người khác cũng cản trở việc xây tháp, nhưng không thành công. Vì vậy Đại Bảo Tháp này được gọi là Jarungkhasor, nghĩa là “một khi đã được cho phép thì không thể bị cản trở.” Việc xây dựng được tiếp tục cả mùa hạ lẫn mùa đông trong suốt bốn năm, cho đến khi Tháp được làm đến phần cổ.

Lúc đó người đàn bà hạ tiện nhận thấy mình sắp chết, nên gọi bốn người con trai và các gia nhân của họ lại rồi nói: “Ta đã nguyện hoàn thành Đại Bảo Tháp này như nơi tích tập công đức cho cả loài người lẫn chư thiên. Các con phải làm cho xong Đại Bảo Tháp này cho ta. Hãy đặt xá lợi bất hoại của chư Phật vào trong Tháp này và rồi dâng hiển Bảo Tháp này cho thật long trọng! Đây là ý nguyện của ta, và khi nó được hoàn thành, những ý nguyện vĩ đại của tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai sẽ được thực hiện. Vâng lời mẹ, các con hãy làm tròn mục đích dẫu phải trải qua nhiều kiếp”.

Nói xong, bà trút hơi thở cuối cùng. Chiêng trống được tấu lên và các vị thần, chư thiên hóa hiện trút xuống một cơn mưa hoa. Bầu trời xuất hiện nhiều ánh sáng cầu vồng. Do công hạnh xây Đại Bảo Tháp, người đàn bà nuôi gà hèn mọn Shamvara đã đắc Phật quả và có danh hiệu là Damtshig Lhamo Pramoha.

Bốn người con trai bàn bạc cùng nhau: “Dù cho mẹ già của chúng ta là một phụ nữ nuôi gà nghèo, và dù cho chúng ta có những người cha khác nhau, nhưng mẹ đã nuôi nấng, lo cho chúng ta thành những gia chủ. Với tài sản của mẹ, nếu chúng ta hoàn thành Đại Bảo Tháp này, một viên ngọc quý trong cõi Nam Diêm Phù Đề Jambu-vidpa, thì nó sẽ là một kỳ công vĩ đại. Chúng ta phải đền đáp thiện tâm của mẹ và viên mãn công đức cho đức hạnh của mẹ.” Và như vậy họ đồng lòng làm theo đúng ý nguyện của mẹ mình để đền đáp công ơn dưỡng dục và gây dựng công đức, họ đã làm nốt phần trên của Tháp. Dùng voi và lừa để tải gạch đá, họ tiếp tục công việc trong ba năm nữa, trước khi hoàn thành tòa Tháp, như vậy tất cả là bảy năm. Xá lợi bất hoại của Đức Cổ Phật Đại Ca Diếp được đựng trong cột trụ ở giữa bên trong Tháp.

“Sau khi lễ dâng Tháp đã được tổ chức long trọng với những bông hoa cúng dường được tung rải khắp nơi, Đức Như Lai Đại Ca Diếp đã cùng với các Bồ Tát tháp tùng vây quanh của Ngài xuất hiện trên bầu trời phía trước Đại Bảo Tháp. Xung quanh các ngài là chư Phật, Bồ Tát mười phương cùng vô số các vị A La Hán, năm dòng truyền thừa Như Lai (Ngũ Trí Như Lai), 3 Đấng Chúa Tể Thủ Hộ Văn Thù Manjushri, Quán Tự Tại Avalokiteshvara, và Kim Cang Thủ Vajrapani cùng vô số chư tôn hiền minh, phẫn nộ đông như hoa mè không thể kể xiết xuất hiện rải hoa, tôn vinh cho buổi lễ bằng sự hiện diện quý báu của các ngài. Nhiều loại chiêng trống, chập chõa được tấu lên, các chư thiên làm một trận mưa bão những bông hoa, trong khi hương thơm ngọt ngào lan tỏa ra khắp nơi. Mặt đất rung chuyển ba lần. Hào quang vô lượng của trí huệ thiêng liêng từ thân chư Phật làm lu mờ ánh sáng mặt trời và thắp sáng đêm đen trong suốt năm ngày liền”.

Việt dịch: Ban Thiền Pháp Trí
Trích: Huyền thoại Đại Bảo Tháp và tiểu sử Đạo sư Liên Hoa Sinh