Từ thời tiền Phật giáo, ở Ấn Độ và những nơi khác, hài cốt của các vị vua và các anh hùng được chôn cất trong các gò mộ (tumuli), vì cả sự kính trọng lẫn sợ hãi người chết. Những nơi này ở Ấn Độ cổ đại là những gò đất thấp, tròn, được đánh dấu bằng một vòng tròn gồm các tảng đá.
Theo ghi chép trong kinh Đại bát Niết-bàn (D. II. l41-143), khi các đệ tử hỏi Đức Phật họ phải làm gì với nhục thân của Ngài sau khi Ngài diệt độ, Ngài dường như đã gợi nhắc đến truyền thống cổ xưa này. Ngài giải thích rằng nhục thân của Ngài nên được đối xử giống như nhục thân của một vị Chuyển luân Thánh vương: Sau khi quấn nhục thân trong nhiều lớp vải và đặt vào trong hai chiếc hòm sắt, nó nên được hỏa táng. Sau đó, xá-lợi nên được an trí trong một bảo tháp “tại ngã tư đường” (cātummahāpathe). Xá-lợi của một “đệ tử” (sāvaka) của một vị Như Lai cũng nên được đối xử như vậy. Tại bảo tháp của Đức Phật hay đệ tử của Ngài, tâm của một người sẽ trở nên hoan hỷ và bình an khi nghĩ đến ý nghĩa của nó.
Sau khi nhục thân của Đức Phật được hỏa thiêu, xá-lợi (sarīra) của Ngài được chia thành tám phần, và mỗi phần được tôn trí trong một bảo tháp. Chiếc bình (kumbha) được dùng thu thập xá-lợi và tro từ giàn hỏa thiêu cũng được tôn trí trong bảo tháp (D. II. 166).
Một trong những điều mà vua Aśoka (273-232 TCN) đã thực hiện trong nỗ lực truyền bá Phật giáo là mở cửa mười bảo tháp ban đầu này và phân bổ xá-lợi vào trong hàng nghìn bảo tháp mới trên khắp Ấn Độ. Bằng cách này, các bảo tháp đã được phổ biến rộng rãi. Mặc dù sự phát triển tôn tượng Đức Phật, có lẽ vào thế kỷ II CN, đã cung cấp một tiêu điểm khác cho lòng sùng kính Đức Phật, nhưng các bảo tháp vẫn phổ biến cho đến ngày nay, đặc biệt ở những quốc gia theo Phật giáo Theravāda.
Việt dịch: Nguyên Hiệp
Trích: Tính biểu tượng của các bảo tháp Phật giáo đầu tiên
