Tính biểu trưng của Bảo tháp

Bảo tháp vốn là những nơi chứa thánh tích/di cốt của vị Phật lịch sử hoặc các vị Tổ sư có công đức lớn. Chúng phát sinh từ những gò mộ táng xa xưa của Ấn Độ, đánh dấu mộ phần của những vị lãnh đạo tôn giáo hay chính trị và nhắc nhở người sống về công đức của họ. Sau khi Phật Thích Ca viên tịch, kiểu gò mộ này được dung hợp vào Phật giáo như là nơi chứa thánh tích của Phật và chư Tôn giả, đồng thời được xem như những vật nhắc nhở về sự giác ngộ của Ngài và biểu tượng của nhục thân cũng như lời dạy của Ngài. Bên cạnh đó, người ta cho rằng, khi Phật tịch diệt, Ngài đặt cái bát lên trên bộ y, trao lại cho đệ tử, nên gọi là trao y bát, tức là truyền thừa cho người kế tục. Cái bát úp trở thành hình thức mộ tháp ban đầu. Từ tháp Sanchi đến các tháp ở Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, và Borobudur ở Indonesia, tháp ở Trung Hoa và Nhật Bản, là một lịch sử kiến trúc và điêu khắc phong phú, biến đổi theo từng quan niệm của Phật giáo khi đi vào từng địa phương. Tháp trở thành một biểu tượng không chỉ của Phật giáo, mà còn là sức mạnh của nhà nước sùng kính Phật giáo đó, của sự hướng thượng, khẳng định vị thế Phật vương, và sự giác ngộ cái vô cùng là trời đất, vũ trụ, nên tháp cũng là một vũ trụ thu nhỏ, là núi Tu-di, nơi nương tựa của thế giới hay ngọn núi của thần thánh.

Ngoài ra, vì bảo tháp trông giống ngọn đồi cũng khiến người ta liên tưởng nó biểu thị núi Tu-di, ngọn linh sơn ở trung tâm của vũ trụ Phật giáo. Một cột trụ đi xuyên qua trung tâm của cấu trúc, nối liền đỉnh bảo tháp với thánh tích bên dưới dùng làm trục vũ trụ (axis mundi/cosmi pillar) nối liền trời và đất.

Tín đồ Mật tông tin rằng bảo tháp cũng biểu thị vũ trụ. Nó được cấu tạo với năm hình thể kỷ hà biểu thị ngũ hành. Cái đế vuông vức biểu thị vật chất, trong khi vòng tròn bên trên biểu thị kiến thức. Tiếp đến, hình tam giác tượng trưng tinh thần, và nửa vòng tròn biểu thị Phật pháp. Đầu trên cùng của kiến trúc là một viên bảo châu rực lửa, tượng trưng nguyên lý tối thượng.

Còn có dữ liệu cho rằng “Hình dạng của bảo tháp biểu trưng cho Đức Phật, đội mũ miện và ngồi trong tư thế thiền định trên ngai sư tử. Mũ miện của Ngài là đỉnh chóp nhọn của ngọn tháp; đầu của Ngài là hình vuông ở chân chóp; thân của Ngài là hình dạng chiếc bình; chân của Ngài là bốn bậc của nền đất thấp hơn; và chân nền là chiếc ngai vàng của Ngài”.

Bảo tháp đựng thánh tích biểu trưng cho trí tuệ (pháp thân/dharmakaya) của Đức Phật và cất giữ di vật vật chất của Ngài, và là một trì vật cầm tay của một vài vị thần. Một vài thần linh được miêu tả với bảo tháp nhỏ như là tùy khí. Phật Di Lặc, Phật của tương lai, thường mang một bảo tháp nhỏ trên đầu tóc, trong khi Đa Văn Thiên Vương/Vaishravana, vị Thiên Vương trấn giữ phương Bắc cầm một bảo tháp nơi tay trái. Hay Quảng Mục Thiên Vương/Virupaksha – Vị Thiên Vương sắc đỏ ở phương Tây, vị La-hán A-thi-đa/A-thị-đa/Abheda… Tay giữ bảo tháp sắc trắng hoặc vàng kim, và thường được nâng đỡ trên đài bệ hoa sen. Biểu trưng bảo tháp hiện thân cho phức hợp ý nghĩa các loại hình tượng, với mỗi một cấu thành biểu thị một khía cạnh cụ thể của con đường đi tới giác ngộ. Tháp Phật là tượng trưng của Phật giáo. Tháp Phật còn tượng trưng cho uy thế giáng trừ ma chướng của Phật-đà và pháp thân được thành tựu viên mãn. Hình tượng đó biểu thị dùng thần minh của Phật-đà để trấn áp mọi ma chướng xuống dưới thân. Có tháp Phật còn được trang trí cả cửa nhỏ, tượng trưng cho có một con đường viên mãn. Đế bệ của bảo tháp tạo thành trong dạng thức ngai hoặc bệ nhiều tầng bậc vuông, được biết đến như là “ngai sư tử”. Đi lên phía trên là mái vòm có hình bán cầu của bảo tháp, một hốc vuông hay harmika, một tổng thể chóp nhọn hình nón bên trên lên đến 13 “ô bánh xe”, và một hình chạm đầu mái hoàn thiện với một ô hoa sen, mặt trăng lưỡi liềm, dĩa mặt trời và ngọn lửa hợp nhất.

Huỳnh Thanh Bình
Nguồn: Các dạng tháp trong lịch sử Phật giáo