Ở Tây Tạng, bảo tháp Phật giáo được gọi là chorten. Các chorten nơi đây có hình dáng gần giống với các bảo tháp ở Ấn Độ, cụ thể là phong cách Bắc Ấn. Hình dáng có ba phần chủ yếu, phần đáy dưới cũng rộng, phần thân chính hình tròn vươn lên cao, mặt nghiêng mở rộng về phía trên (được gọi là anda), bên trên người ta đặt phần chính thứ hai. Cách xây dựng này cùng các thành phần hỗ trợ (được gọi là harmika) đánh dấu sự chuyển tiếp sang phần cuối cùng gồm có một cột với các chồng đĩa tròn hoặc những chiếc dù có kích thước nhỏ dần, số lượng chênh lệch từ tám đến mười ba cái. Với ý nghĩa truyền thống của Phật giáo, các chorten Tây Tạng, bên cạnh việc được coi là cái cốt tủy của chính Đức Phật, còn có ý nghĩa về vũ trụ, đặc biệt là phần đỉnh. Đỉnh chorten được cấu tạo bởi năm hình thể kỷ hà biểu thị cho ngũ hành. Phần đế vuông biểu thị cho sắc, trong khi vòng tròn bên trên biểu thị cho thức. Tiếp đến, hình tam giác tượng trưng cho tinh thần và nửa vòng tròn biểu thị cho Phật pháp. Trên cùng của kiến trúc là một viên bảo châu rực lửa tượng trưng cho nguyên lý tối thượng. Kiến trúc và những chi tiết trang trí này phần nào nói lên sự đa dạng của bảo tháp Phật giáo, nó thể hiện sự tiếp biến và việc bảo tồn phong cách đặc thù của mỗi nền văn hóa. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng những ngôi tháp này vẫn chưa thể hiện được sự đa dạng và phần nào còn chịu ảnh hưởng của hình mẫu nguyên thủy.
Tại Tây Tạng, trên cơ sở của hình bán cầu ban đầu, tháp có thêm những phần mới như chân tháp, thân tháp, ngọn tháp. Ngày nay ở các quốc gia theo Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Kim Cang thừa như Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia… tháp thường có cơ bản năm phần, từ dưới lên trên kết cấu như một người ngồi tọa thiền:
– Đế hình vuông thể hiện Địa đại (đất).
– Phần bầu tròn thể hiện Thủy đại (nước).
– Phần các nón nhọn hướng lên thể hiện Hỏa đại (lửa).
– Phần lọng che thể hiện Phong đại (gió).
– Phần trên cùng thể hiện Không đại (một khái niệm triết học trừu tượng có nghĩa “vừa là tinh thần vừa là vật chất, vừa là tất cả vừa không là gì”).
Năm phần này với con người sẽ sinh ra: xúc, vị, hương, thanh, sắc (cũng từ dưới lên trên: xúc giác – cảm xúc, màu sắc, vị, hương, tiếng và sắc). Qua ngôi tháp, con người sẽ tri giác được sự cấu thành của vạn vật và chính bản thân mình, sự đi lên từ vật chất đến trí huệ.
Thông thường, dù tháp Phật có hình dáng như thế nào, lớn nhỏ ra sao thì hình dáng cơ bản của nó vẫn thường do ba bộ phận là nền tháp/chân tháp/đế tháp, thân tháp/bình tháp và đỉnh tháp/sát tháp/ngọn tháp tổ thành; trong bình tháp cung phụng nhục thân của hoạt Phật. Nền tháp có hình vuông, hình tròn, hình đa giác nhiều bậc; cũng gọi là “sư tử tòa”. Thân tháp là từng tầng hướng lên trên cao, càng lên cao càng thu nhỏ lại. Hình dạng bao quát là: đỉnh vòm tháp hình tròn, bàn thờ Phật hình vuông, có 13 tầng tháp nhọn tựa như “ô tròn”, vật trang trí là hoa sen hình ô, mặt trăng lưỡi liềm, mặt trời tròn và ngọn lửa. Đỉnh tháp/sát tháp nằm ở vị trí cao nhất của tháp cổ. Cấu tạo của nó gồm bệ sát, thân sát, đỉnh sát và cán sát. Hình dạng của loại tháp này, khiến tháp cao vút tựa như chạm mây, tạo nên khung cảnh hùng vĩ vô cùng. Bệ sát nằm trên thân tháp, nối tiếp với sát tháp, thường có hình núi Tu-di, cánh hoa sen ngửa, lá hoa kim ngân/hoa lá chịu lạnh hoặc bệ bằng. Bên trong của đỉnh tọa còn có huyệt/hang sát để giữ xá-lợi, tượng Phật, kinh Phật hay các cúng phẩm khác.
Còn chi tiết tên gọi từng kết cấu của Phật tháp như sau: 1. Tát tăng (sát đất); 2. Thê cấp tùng (ba bậc cấp sát đất); 3. Đông thiên hoặc sâm xích (pháp tọa); 4. Tùng ni; 5. Bồn cung bối ma; 6. Bồn khánh; 7. Cấp cửu (Thập thiện); 8. Bạng lệnh tây (bốn tầng); 9. Bản điền bối ma (đế bình hình cánh sen); 10. Bố điệp (bình tháp); 11. Bố bạch hạ biên; 12. Cổ khâm mộc (cửa tháp); 13. Bố cấp bạch đan mộc (trang trí trên eo hình tháp); 14. Xích đán (đế đấu tháp); 15. Xích (đấu tháp); 16. Đột địa bạch ma (đế hình cánh sen); 17. Quần khoát cửu tùng (13 pháp luân); 18. Tát nhật a sai (mái hiên che mưa); 19. Đột cơ đóa tùng (lều tháp); 20. Đột (ô tháp); 21. Tư nhược hoặc kháp khắc (áo mưa); 22. Đạt ngõa (mặt trăng); 23. Ni-ma (mặt trời); 24. Đóa (đỉnh tháp).
Hai bộ tám đại bảo tháp được xây dựng trong thời gian ngắn sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết-bàn. Một bộ được biết đến như là tám đại thánh tích bảo tháp của những thành thị, chứa tám phần phân chia xá-lợi của Đức Phật. Bộ khác được biết đến như là bảo tháp Như Lai của tám nơi linh thiêng, tưởng niệm tám sự kiện chính trong cuộc đời của Đức Phật.
Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ, người dân xây dựng tám bảo tháp để tưởng niệm tám sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật, đây là truyền thống đã được hình thành trong Phật giáo Tạng truyền. Tám loại hình chủ yếu của Phật tháp Tây Tạng bắt nguồn từ tám tháp trong Bát đại linh tháp danh hiệu kinh, còn gọi là tám tháp thiện thế. Tám loại tháp này từ hình dạng bốn tầng và có thể phân biệt như sau:
– Tháp Tích liên/Tây Tích liên, còn gọi là tháp Tụ liên/Liên tụ, tháp để tưởng nhớ Đức Phật đản sinh ở vườn Lâm-tỳ-ni, thành Ca-tỳ-la-vệ.
Còn được biết đến như là “Bảo tháp hoa sen chất chồng” hoặc “Sự ra đời của bảo tháp Sugata”, bảo tháp này đề cập đến sự ra đời của Đức Phật Gautama. “Lúc mới sinh, Đức Phật đi bảy bước ở bốn hướng” (Đông, Nam, Tây, Bắc). Ở mỗi hướng, hoa sen mọc lên, tượng trưng cho các phạm trú/brahmavihara: từ, bi, hỷ, xả. Phần đế/bệ của bảo tháp này có hình tròn, bốn tầng bậc và được trang trí với các đồ án hình cánh hoa sen. Đôi khi, bảy tầng bậc hoa sen chất chồng cũng được thể hiện. Điều này đề cập đến bảy bước đầu tiên của Đức Phật.
– Tháp Bồ-đề/Đông Tây Bồ-đề hoặc tháp Giáng Ma tức tháp về sự giác ngộ hay chiến thắng Ma vương, tưởng nhớ Đức Phật đánh bại Ma vương và giác ngộ dưới gốc cây Bồ-đề tại Bồ Đề Đạo Tràng/Bodh Gaya bên sông Ni-liên-thiền của nước Ma-ca-đà/Ma-yết-đà, nơi Đức Phật thành đạo.
Còn được biết đến như là “Bảo tháp về sự chinh phục Ma vương/Mara”, bảo tháp này tượng trưng cho sự thành tựu giác ngộ của Đức Phật khi 35 tuổi ở dưới gốc cây Bồ-đề tại Bodh Gaya, nơi Ngài đã chiến thắng những cám dỗ và công kích của thế gian, hiển hiện dưới hình thức Ma vương/Mara. Tháp Bồ-đề bốn tầng, hình vuông chỉnh tề.
– Tháp Đa môn (nhiều cửa hay cổng)hay tháp Cát tường/Nam Cát tường tưởng nhớ Đức Phật lần đầu “chuyển pháp luân” ở vườn Lộc Uyển tại thành Ba-la-nại nước Ca-thi.
Sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật thuyết pháp cho những đệ tử đầu tiên của mình ở Lộc Uyển. Tháp cát tường bốn tầng, bộ phận khoảng 1/3 giữa các mặt hơi nhô lên. Trên bốn tầng vẽ và điêu khắc hình cửa điện. Số lượng cửa điện dựa vào quy phạm nhất định mà có sự khác nhau. Dãy cửa ở mỗi bên của bậc tam cấp tượng trưng cho những giáo lý đầu tiên: Tứ diệu đế, Lục ba-la-mật, Bát chánh đạo và Thập nhị nhân duyên.
– Tháp Thiên giáng hay tháp Thần giáng/Đông thần giáng, tức tháp về sự đi xuống từ cõi trời (nơi ở của các vị thiên), để tưởng nhớ kỳ an cư mà Đức Phật đã thuyết pháp cho mẹ khi bà tái sinh ở cõi trời Đao Lợi, và Ngài đi xuống từ cõi trời ở thành Khúc Nữ của nước Tăng-già-thi/Sankasya.
Vào năm 42 tuổi, Đức Phật đã trải qua kỳ an cư tại cõi trời Đao Lợi, nơi mẹ của Ngài đã tái sinh. Để báo đáp mẹ, Ngài đã thuyết pháp cho bà. Các cư dân nơi đây đã xây dựng một bảo tháp ở Tăng-già-thi để tưởng nhớ đến sự kiện này. Tháp Thần giáng bốn tầng, về cơ bản giống với tháp Thần biến. Tại trang thờ Phật chính điện bình tháp có ba bậc thang, cũng có khi nhiều bậc thang hơn hay có thể nói đặc điểm của tháp này là có một chỗ nhô ra/lồi ra ở giữa/trung tâm tại mỗi bên chứa một cầu thang ba phần hoặc ba cấp bậc.
– Tháp Thần biến/Tây Bắc Thần biến tức tháp về những điều thần diệu, tưởng nhớ nơi Đức Phật thuyết Đại Bát-nhã kinh, hiện thần thông giáo hóa những tín đồ ngoại giáo (tirthika) ở vườn Kỳ-đà/Jetavana tại Xá-vệ/Shravasti.
Bảo tháp này đề cập đến nhiều điều thần diệu khác nhau được Đức Phật thực hiện khi ngài 50 tuổi. Truyền thuyết thừa nhận rằng Ngài đã chế ngự các Ma vương/Mara và người theo dị giáo bằng cách lôi cuốn họ vào những cuộc tranh luận trí tuệ và cũng như thực hiện những điều thần kỳ. Bảo tháp này được nâng lên bởi vương quốc Lichavi để tưởng niệm sự kiện này. Tháp Thần biến bốn tầng, bộ phận khoảng 1/3 giữa các mặt hơi nhô lên.
– Tháp Hợp ly hay tháp Hòa hiếu/Hòa hợp hoặctháp Giải hòa để tưởng nhớ sự hợp nhất tranh cãi trong Tăng đoàn tại Trúc Lâm/Veluvana tại thành Vương-xá/Rajagriha (Rajghir).
Bảo tháp này tưởng niệm việc Đức Phật phân giải tranh chấp giữa Tăng đoàn. Một bảo tháp trong thiết kế này được xây dựng ở vương quốc Magadha, nơi đã diễn ra ra sự hòa giải. Nó có bốn tầng hình bát giác với các cạnh bằng nhau cũng có dữ liệu cho rằng tháp có hình vuông, hình lục giác.
– Tháp Tôn thắng tứctháp về sự chiến thắng hoàn toàn.
Bảo tháp này tưởng niệm việc Đức Phật trải qua ba tháng cuối cùng trước khi nhập Niết-bàn tại thành Quảng Nghiêm của nước Tỳ-xá-ly/Vaisali. Nó chỉ có ba tầng bậc, hình tròn hay vuông và không trang trí.
– Tháp Niết-bàn để tưởng nhớ Đức Phật nhập Niết-bàn tại Câu-thi-na/Kushinagara.
Bảo tháp này tưởng niệm sự kiện Đức Phật nhập diệt khi Ngài 80 tuổi. Bảo tháp có dạng hình chuông và thường không có trang trí, bình tháp đặt ngược trực tiếp trên đế tháp.
– Tháp Thời luân/Kalachakra
Một loại bảo tháp thứ chín tồn tại, bảo tháp Kalachakra. Biểu trưng của bảo tháp không liên quan đến các sự kiện trong cuộc đời của Đức Phật, mà thay vào đó là biểu tượng của Mật pháp Thời luân/Kalachakra Tantra, được tạo ra để bảo vệ khỏi những năng lượng tiêu cực.
Ngoài ra, trong Phật giáo Tạng truyền còn đề cập đến linh tháp là một loại hình kiến trúc đặc biệt trong Phật tháp, thường là một loại Phật tháp cung phụng và bảo tồn pháp thể hoặc xá-lợi của các hoạt Phật, thượng sư. Linh tháp là bộ phận tổ thành quan trọng của Phật tháp hình thức Tây Tạng, là một loại kiến trúc có hai công dụng là Phật tháp và tháp táng. Linh tháp tập hợp tư tưởng “tứ giới” (tức đất, lửa, nước, không khí) của Phật giáo vào nhất thể, khiến cho bốn yếu tố này thông qua linh tháp mà biểu hiện thành thực thể hữu hình hữu chất. Di thể của hoạt Phật, cao tăng bảo tồn trong linh tháp, không chỉ thể hiện tư tưởng Phật giáo nhục thể quy về “tứ giới”, mà còn tượng trưng cho một vòng luân hồi sinh tử “sinh ra – sống – tinh thần – chết đi – sinh ra”. Tòa linh tháp đầu tiên của Tây Tạng là linh tháp Đại sư Tịch Hộ bên chùa Tang Da, Sơn Nam.
Trong Phật giáo Tạng truyền luôn có tập tục xây dựng linh tháp cho Đạt-lai Lạt-ma, Ban Thiền và các cao tăng nổi tiếng. Tại thời kỳ đầu Thổ Phồn, Tây Tạng đã có linh tháp, đến nay tập tục xây dựng linh tháp vẫn tiếp tục tồn tại ở Tây Tạng và Butan.
Trong Hồng cung phía Tây cung Bố Đạt Lạp còn bảo tồn số lượng linh tháp lớn, nổi tiếng nhất có tám tòa linh tháp của Đạt-lai Lạt-ma và một số tòa linh tháp của thượng sư, chúng là bộ phận tổ thành quan trọng của cung Bố Đạt Lạp. Trong Hồng cung có linh tháp của Đạt-lai Lạt-ma đời thứ 5, đời thứ 7, đời thứ 8, đời thứ 9, đời thứ 10, đời thứ 11, đời thứ 12 và đời thứ 13, tổng cộng 8 tòa. Trong Đạt-lai Lạt-ma các đời, duy có Đạt-lai Lạt-ma đời thứ 6 là không có linh tháp, linh tháp của Đạt-lai Lạt-ma từ đời thứ nhất đến đời thứ tư lần lượt đặt ở chùa Trát Thập Luân Bố của Nhật Khách Tắc và chùa Triết Bạng ở Lạp Tát. Những linh tháp này không chỉ có tính chất độc đáo mà còn có giá trị lịch sử, văn vật vô cùng quan trọng.
Huỳnh Thanh Bình
Nguồn: Các dạng tháp trong lịch sử Phật giáo
